2001

2001humanhibernation

By Ngô Thị Thanh

Bộ phim “2001: a space Odyssey” của Staley Kubrick làm vào năm 1968 được giới phê bình cũng như  các thế hệ khán giả tôn vinh là tác phẩm kinh điển và lớn nhất mà nhân loại từng sáng tạo ra.

Lối tự sự dựa trên một ý tưởng triết học về hiện tồn của con người đã khiến “2001” cũng từ bỏ phong cách kể chuyện truyền thống (vốn lấy cốt truyện và quan hệ nhân quả làm trung tâm) thay vào đó là tính biểu tượng, huyền ảo để tạo ra sự đa nghĩa hay chí ít là cảm giác hoang mang, hoài nghi. Ngay trong tên phim đã xuất hiện một mẫu gốc có khả năng làm thức dậy những kí ức văn hoá của mỗi người: cuộc hành trình Uy-lít-xơ. Và xuyên suốt bộ phim, chúng ta cũng sẽ bắt gặp lối cấu tạo “văn bản” phim bằng thủ  pháp “liên văn bản” như vậy.

“2001” chia thành ba phần: The dawn of man; Jupiter Mission: Eighteen Months Later; Jupiter and Beyond the Infinite. Nó phản ánh hành trình tiến hoá của nhân loại từ khỉ người (ape) hoang dã, hỗn loạn đến con người (man) văn minh, trật tự và cuối cùng tái sinh thành “Star-child”. Kubrick cấu trúc phim dựa trên ý tưởng của nhà triết học người Đức, cha đẻ thuyết siêu nhân – F. Neitzsche. Trong cuốn sách nổi tiếng “Zarathustra đã nói như thế”, Neitzsche cho rằng tinh thần con người trải qua ba trạng thái: lạc đà, sư tử và cuối cùng là đứa trẻ: “Lạc đà biểu trưng cho thời kì tôn sùng và gửi gắm niềm tin vào các lí tưởng, kiên nhẫn tiếp nhận những giá trị lưu truyền, sư tử là biểu trưng cho sự đổ vỡ niềm tin, cho thời kì của tinh thần tự do và sự trải nghiệm của chủ nghĩa hư vô; đứa trẻ biểu trưng cho thời kì tinh thần tìm cách khắc phục chủ nghĩa hư vô, cất lên tiếng “vâng” thuận mệnh đối với cuộc sống và sự khởi đầu cho một niềm tin mới” (tr11, Zarathustra đã nói như thế). Nhân loại đi từ tinh thần kỉểu Dionysus (thần rượu nho trong thần thoại Hi Lạp) sang Apollo (thần chiến thắng, ánh sáng) đồng nghĩa với việc rũ bỏ cảm xúc mạnh mẽ, bản năng để đạt được trạng thái cân bằng, yên ổn trong các chính thể, tôn giáo, đạo đức. Trong phim chúng ta thấy bước chuyển này rất rõ từ hình ảnh chiếc xương thú sang chiếc vệ tinh (có hình dáng tương tự), từ một vật do tự nhiên tạo thành đến một vật do con người tạo thành (chớ vội kết luận cái nào hoàn hảo và phức tạp hơn cái nào). Nó là ám dụ chỉ khát vọng kiểm soát vũ trụ, áp đặt ánh sáng và trật tự Apolo lên khoảng không thăm thẳm.

Ở đoạn này, đạo diễn sử dụng bản giao hưởng cổ điển “The blue Danube” làm âm thanh ngoài hình. Ngay lập tức, người xem cảm nhận được sự lệch pha giữa âm thanh mang hơi hướng quá khứ và hình ảnh thể hiện công nghệ hiện đại. Việc đặt cạnh nhau các kí hiệu như vậy tạo ra những va chạm văn hoá làm xuất hiện ý tưởng độc đáo. Có người cho rằng tác giả muốn diễn tả một vũ trũ hoà bình, nhịp nhàng, êm ả. Nhưng cũng có ý kiến ngược lại khi khẳng định thực chất sự hoà trộn thú vị này tạo ra tính “giễu nhại”, bỡn cợt. Nếu chúng ta liên kết các yếu tố của bộ phim thì có thể thấy rằng, Kubrick thường trực một ý tưởng xuyên suốt: bất cứ ở thời đại nào con người cũng không thể giải thích, chiếm lĩnh được mọi thứ, nói cách khác, chúng ta luôn chậm hơn, giống như bản nhạc và hình ảnh không phải lúc nào cũng hài hoà, đồng nhịp. Mặt khác, “The blue Danube” đem lại nhịp điệu uyển chuyển của những điệu chân ba lê (gợi nhắc ngữ cảnh sử dụng bản nhạc trong tâm trí người xem) thì màn hình chiếu bước đi tập tễnh, cẩn thẩn của con người trên tàu vũ trụ. Ở trái đất, bước đi của con người trở thành nghệ thuật ba lê – sự thuần thục chuyển hoá thành sáng tạo, cái Đẹp – thì ở vũ trụ, con người phải học lại tất cả từ những bước đi đến ăn uống, vệ sinh. Nó “chỉ là đứa trẻ ở khoảng không ngoài trái đất”.

Dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự mất tự chủ của con người khi dấn thân vào vũ trụ chính là hình ảnh chiếc bút máy rơi ra khỏi túi nhân vật Floyd. Chúng ta biết rằng, lịch sử tiến hoá nhân loại gắn liền với cải tiến công cụ lao động. Quần thể vượn người đạt được bước ngoặt lớn lao chính là lúc xuất hiện ý thức sử dụng xương thú làm công cụ chiến đấu chống lại kẻ thù bốn chân và hai chân. Phép tỉnh lược trong điện ảnh đưa chúng ta thẳng đến tương lai 2001 để chứng kiến một công cụ toàn năng – kết quả của cách mạng khoa học kĩ thuật – máy tính thông minh có tên là HAL. Nếu ở thời nguyên thuỷ, chiếc xương thú còn nằm trong tay vượn người thì đến đây con người nằm trong hệ thống máy móc. Máy móc liên kết Floyd với đứa con, Frank và bố mẹ của anh ta, duy trì sự sống cho các phi hành gia và nối kết con người với vũ trụ. Mọi thứ kể cả tình cảm gia đình đều bị “số hoá”, trống rỗng.

HAL là niềm tự hào của nhân loại vì nó cho thấy khả năng sáng tạo vô biên; con người có thể làm được một loại máy trí tuệ mà không cần sự can thiệp của qui luật tạo hoá (sinh sản vốn được xem như hình thức duy nhất làm xuất hiện cuộc sống). Chỉ có điều,  HAL không thể là người vì nó thiếu linh hồn, cảm xúc – HAL vĩnh viễn chỉ giữ chức năng công cụ. Nhưng khi Bowman và Frank nói về trục trặc của Hal và muốn ngừng nối kết nó thì xung đột xảy ra. Hal luôn khẳng định nó là bộ máy hoàn hảo nhất và không thể có lỗi sai, lỗi sai thuộc về con người. Đạo diễn sử dụng ống kính chủ quan để thể hiện cái nhìn của Hal. Điều này cho thấy một ý thức sống nào đó đang tồn tại trong cơ thể chiếc máy thông minh và cũng ngầm báo về mối nguy hiểm đe doạ các phi hành gia: họ luôn được đặt dưới tầm kiểm soát. Khi Frank bước ra ngoài không gian, âm thanh duy nhất là tiếng thở ôxy được truyền về nhờ hệ thống computer còn vũ trụ thì im lìm. Quan hệ giữa con người và vũ trụ là xa lạ và đầy khoảng cách ngay cả khi con người ở trong nó. Hal đột ngột cắt đứt đường truyền sự sống. Frank bị chết, rơi vào thăm thẳm hư vô. Đoạn phim chìm trong im lặng đem lại nỗi lo sợ, cô đơn, cảm giác nhỏ bé, vô nghĩa. Dave buộc phải dùng hệ thống dự phòng bằng tay để thâm nhập vào bộ nhớ của Hal và phá huỷ nó.

Trường đoạn cuối cùng đầy tính phi lý. Dave vượt qua các vùng sáng nhiều màu sắc rồi đến được một căn phòng. Ở đó, anh gặp tương lai và cái chết của chính mình. Điều lý thú là Kubrick sử dụng cú máy dài làm cho những thời điểm trong đời người được cảm nhận theo vòng tuần hoàn: trẻ – già – trẻ. Hình ảnh bào thai hướng về trái đất thể hiện sự tái sinh, bắt đầu một công cuộc xây dựng mới. Đối với Nietzsche, “startchild” là cấp độ tiến hoá cuối cùng khi con người đến ngưỡng siêu nhân trong ý thức. Con người luôn là một bộ phận của tự nhiên vĩnh cửu và khi nhận ra điều đó thì nó cũng tìm được chỗ đứng cho mình giữa hư vô.

Mặc dù bộ phim chia thành các trường đoạn khá độc lập nhưng có một biểu tượng trở đi trở lại là phiến thạch phát ra âm thanh huyền bí. Ở phần “The dawn of man”, phiến thạch xuất hiện đối lập với không gian xung quanh: những góc cạnh và mặt phẳng nhẵn khác hẳn khung cảnh núi đá gồ ghề tự nhiên. Đến phần 2, nó lại trở thành thử thách với các nhà khoa học khi cắm sâu vào bề mặt mặt trăng. Và cuối cùng, phiến thạch xuất hiện ở giường của người đàn ông sắp từ giã cõi đời. Đạo diễn cũng từ chối giải thích nguồn gốc của nó. Và vì thế phải chăng theo Kubrick, thế giới này vẫn có những bí ẩn không thể tìm được căn nguyên, những sức mạnh kì diệu mà nền văn minh chúng ta không bao giờ theo kịp. Nó có mặt khi con người còn mông muội để hướng dẫn, mở lối trí tuệ. Nhưng khi chúng ta đạt đến tiến bộ khoa học kĩ thuật vượt bậc thì nó lại là thách thức, lời cảnh báo về giới hạn của con người. Cuối cùng, phiến thạch thực hiện vai trò cứu rỗi, khai sáng, giác ngộ cho nhân loại già cỗi tái sinh.

Bộ phim “2001: a space Odyssey” quấy nhiễu thị hiếu người xem bởi dung lượng, các biểu tượng khó nắm bắt và sự huy động rộng rãi những mẫu gốc văn hoá. Nó đề cập đến vấn đề triết học về tồn tại của con người và thách đố mọi lý giải. Bằng tài năng của mình, Kubrick giúp chúng ta hiểu rằng ngay cả với một ngành nghệ thuật cảm nhận được bằng các giác quan cũng đa nghĩa, mơ hồ.

~ by ngothanh on January 21, 2009.

10 Responses to “2001”

  1. Mình rất chờ đợi để xem phim này, đến lúc xem mới ngộ ra là phim ảnh không đơn thuần là giải trí. Những tác phẩm như vậy đã làm điện ảnh trở thành môn nghệ thụât bác học.

    Về việc sử dụng một bản nhạc cổ điển làm âm thanh ngoài hình cho hình ảnh thể hiện công nghệ hiện đại theo mình không hề lệch pha. Bởi nhạc cổ điển không đơn thuần là giai điệu của quá khứ, chính nhạc cổ điển lại là những “tinh hoa hiện đại” nhất mà con người có thể tưởng tượng và sáng tạo ra.

    Bài viết hay và đáng đọc :D

  2. “bước đi tập tễnh, cẩn thẩn”
    tập tễnh thì khác với cẩn thận chớ,

  3. Blue Danube không diễn tả nhịp của điệu Bale, Blue Danube là điệu Valse. Hơn nũa, Balê không có điệu cụ thể :D.

  4. Công nhận đọc xong bài này của Thanh, mình rất muốn xem bộ phim này, thế mới thấy tác dụng của phê bình phim :D. Bình thường thấy thể loại phim ảnh hay bất cứa cái gì liên quan đến triết học cái là mình tránh xa :D.

  5. Cảm ơn các anh, chị đã quan tâm đến bài viết của em. Những ý kiến em xin tiếp thu và suy nghĩ kĩ hơn. Có 2 điểm em xin giải thích một chút về việc sử dụng từ ngữ:
    – với anh Phongsinh: thì đúng là hai từ này khác nhau nhưng 2 từ khác nhau không có nghĩa là không bổ trợ cho nhau. Trong trường hợp này, “tập tễnh” và “cẩn thận” có quan hệ nhân quả.
    – với chị dominhtu, thì “điệu” ở đây dùng để gọi chung cho một đơn vị hoạt động có nhịp điệu (điệu múa, điệu hát, điệu nhảy….). Em không rõ về ba lê nhưng theo như em quan sát thì chắc chắn nó phải có sự lặp lại trong động tác, có quãng ngắt nghỉ, nhún nhảy…và với đặc điểm ấy chúng ta vẫn dùng từ “điệu” được.

  6. hi, thứ nhất là gõ nhầm “thận” thành “thẩn”, đọc rồi mà vẫn chưa sửa, :D,
    thứ hai, ý tớ là thường tập tễnh để diễn tả chân bị thương hoặc bị tật, đi tập tễnh thường khó điều khiển chân để cẩn thận, có lẽ là rón rén thì cẩn thận hơn, chắc tớ phải xem lại phim này xem đi thế nào mới được, xem lâu rùi ko còn nhớ nữa, :D,
    ờ mà tự dưng mới nghĩ ra, hay là ý ngothanh là “chập chững”, :D,

  7. :D. Không có ý kiến về sử dụng từ ngữ của Thanh đâu. Chỉ là lưu ý Blue Danube là điệu Valse, rất khác so với balê.

  8. Trời, Thanh làm tớ quá tò mò về phim này! Đặc biệt là đoạn liên quan đến The blue Danube. Cảm ơn ấy nhiều!!!

    Chúc một năm mới nhiều bài viết chất lượng nữa nha Thanh! ;)

  9. Ừ, phải xem phim này mới được. Thanh ơi mang đĩa đến lớp đi!

  10. Bài viết rất hay, xúc tích. Bài viết hướng mình đến những suy nghĩ khác mà mình chưa thấy được, ở một góc nhìn triết học và nhân văn hơn là đi tìm câu trả lời logic cho những diễn biến trong phim. Ngoài những góc độ đó, phim còn tốn rất nhiều giấy mực của giới phê bình phim về những thiết kế , ý tưởng viễn tưởng mà thời đó Staley Kubrick dự đoán cho năm 2001 (từ video call đến sản phẩm xem tin tức như ipad…) Trước giờ đây là phim cổ điển đầu tiên mình xem, quả là 1 tác phẩm vượt thời gian.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: