Âm Thanh Trong Phim “A Woman Is a Woman” cua Godard

Author: Vũ Hạnh

Âm thanh là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất quyết định sự “thành bại” của một bộ phim. Khi đạo diễn đóng khung một bức ảnh với nhiều chi tiết, người xem có thể chọn nhìn cái này làm trung tâm chú ý và bỏ qua cái kia, chứ âm thanh thì người xem không thể có sự lựa chọn đó. Họ phải nghe tất cả những gì đạo diễn cho họ nghe, và ảnh hưởng tâm lý âm thanh mang lại rất sâu rộng, đối với nhiều người, âm thanh quan trọng cho cảm giác của phim hơn cả hình ảnh. Vì thế âm thanh có vị trí rất quan trọng trong điện ảnh, là một trong những yếu tố quyết định sự “hay dở” cũng như “thành bại” của bộ phim, và cũng là một trong những nhân tố góp phần làm nổi bật phong cách riêng của nhà làm phim. Có thể lấy bộ phim “Woman is woman” của Godard làm ví dụ minh họa.
Trong số vô vàn những bộ phim đặc biệt trong kĩ thuật xử lý âm thanh, tôi chọn Woman is woman của Godard bởi nó đi ngược lại với những kĩ thuật xử lý âm thanh thông thường và chính điều đó làm nên phong cách riêng của Godard.

“Woman is woman” không có những sáng tạo đặc biệt trong việc tìm tòi những nội dung mới mẻ. Bộ phim xây dựng dựa trên những mô tip hết sức quen thuộc: mối quan hệ giữa đàn ông – đàn bà; rồi sự giận dỗi cá tính của phụ nữ….Câu chuyện và cốt truyện trong phim không có gì đặc biệt nhưng nó lại ghim lại trong lòng khán giả những ấn tượng không quên. Âm thanh trong bộ phim phần nào làm nên hiệu quả đặc biệt ấy.

Thứ nhất: sự tham gia của âm thanh vào nghệ thuật dựng phim:
Điểm mạnh của điện ảnh là nghệ thuật nối các cảnh với nhau bằng những mối nối đầy ẩn ý để thấy được cảm xúc bên trong của nhân vật. Nhưng những “mối nối đầy ẩn ý” ấy lại tìm đến những cách thể hiện khác nhau, nhưng vẫn đạt đến những hiệu quả như mong đợi. Đặt “Woman is woman” trong sự so sánh với “The Cranes are flying”, ta thấy được sự khác biệt trong nhịp điệu dựng phim, đều rất ấn tượng trong cách sử dụng các mối nối. Một bộ phim đi theo hướng cố gắng dựng càng êm càng tốt, còn một bộ phim lại cố tình phá vỡ những “mối chuyển êm ái” ấy. “Cranes are flying” là một trong những bộ phim đặc biệt ấn tượng với nghệ thuật nối cảnh bằng tâm trạng của nhân vật. Với một mô típ quen thuộc về tình yêu trong chiến tranh, những mất mát và bi kịch, bộ phim sử dụng rất nhiều những tưởng tượng, giấc mơ, hồi tưởng, mờ chồng nhằm đặc tả nội tâm và khát vọng của nhân vật chính. Theo đó, các cảnh được gối tiếp nhau rất êm, khán giả dường như bị chìm vào thế giới tâm trạng của nhân vật và bị ru ngủ trong đó. Điều này hoàn toàn trái ngược với “Woman is woman”. Bộ phim với những kĩ thuật xử lý âm thanh đặc biệt, luôn “đánh thức” khán giả “hồi tỉnh” trước sự nối tiếp của các cảnh quay và thậm chí trong một cảnh quay, âm thanh vẫn mang lại cho khán giả sự “đột ngột” “bất ngờ” rất thú vị.

Không thỏa mãn với những bộ phim trong đó sử dụng những bản nhạc rất êm để chuyển cảnh, để thể hiện những cảm xúc của nhân vật, hay dựng những hội thoại trong cảnh và thường dùng một đối thoại gối cảnh nhằm làm nhẹ đi sự thay đổi thị giác của cảnh quay, “Woman is woman” sử dụng liên tiếp những cú dựng nhảy tạo hiệu quả không êm. Các cảnh được nối với nhau một cách “đường đột” và bất ngờ. Ngay trong một cảnh quay dù rất ngắn, âm nhạc cũng tác động rất mạnh vào cảm xúc của khán giả. Âm thanh từ đâu đó đột nhiên trỗi dậy rồi lại đột nhiên mất đi và lại đột nhiên nổi lên…cứ như vậy, khán giả không thể đoán trước được điều gì sắp xảy ra. Nếu trong nhiều bộ phim, âm thanh thường xuất hiện trong những trường đoạn nhân vật suy tư hoặc đang trong những trường đoạn gay cấn – mà ở đó sự hiện diện của âm nhạc khán giả có thể đóan trước được – thì ở bộ phim này, âm nhạc có thể xuất hiện ở những đoạn mà khán giả không thể đoán biết được, đôi lúc âm nhạc xuất hiện và lặng đi đột ngột làm cho khán giả giật mình.

Thứ hai: âm thanh tạo nên nhịp điệu trong bộ phim
“Woman is woman” nổi bật lên với cách xử lý lời thoại của nhân vật theo kiểu tương phản: người vợ luôn mong muốn có một đứa con, còn anh chồng lại luôn chống đối lại điều đó. Từ đầu phim cho đến kết thúc, lời thoại của hai nhân vật này luôn trái ngược với nhau. Sự trái ngược trong lời thoại của nhân vật tạo nên nhịp điệu: nhịp điệu của sự cãi vã bao trùm lên không khí bộ phim.

Hơn nữa, việc hòa trộn một cách dày đặc hai loại âm thanh có âm lượng hoàn toàn khác biệt (sự đan xen liên tiếp của những âm lượng cao độ – rất ồn ào với âm lượng gần như tĩnh lặng) tạo nên nhịp độ trầm bổng trong bộ phim (sự đan xen giữa nhịp điệu tĩnh và động trong các mixăngxen và giữa các mixăngxen với nhau trong lời thoại và âm nhạc). Có những trường đoạn phim dài, nhịp điệu của phim biến thiên đều đặn đến mức ta có thể hình dung nó như sơ đồ hình Sin trong toán học mà ở đó có sự lên trầm xuống bổng của âm thanh đan xen nhau đều đặn và liên tiếp.

Thứ ba: âm thanh minh họa cho lời thoại của nhân vật
Giống hầu hết với những phim âm thanh khác, âm thanh trong phim “Woman is woman” cũng đồng hiện với hình ảnh. Những tiếng động, âm nhạc và diễn ngôn xuất phát từ không gian của câu chuyện gần như luôn diễn ra đồng thời với hình ảnh. Do đó âm thanh trong “Woman is woman” tham gia minh họa cho lời thoại của nhân vật.

Thậm chí có những trường đoạn lời thoại của nhân vật hoàn toàn tĩnh lặng, nhường phần cho sự lên tiếng của âm nhạc. Âm nhạc với sự dao động mạnh về âm lượng và sự đậm đặc về tần số, không chỉ góp phần minh họa cho lời thoại của nhân vật mà còn vượt lên trên giới hạn là công cụ minh họa để tham gia biểu đạt thế giới tâm hồn phức tạp của nhân vật một cách chân thực và sinh động nhất, tác động một cách mạnh mẽ và trực tiếp vào thính giác của khán giả, gây những hiệu quả cảm xúc bất ngờ.

Thứ tư: âm thanh biểu đạt tích cực thế giới tinh thần của nhân vật.
Âm nhanh không chỉ minh họa cho lời thoại của nhân vật mà còn góp phần tạo nên nhịp điệu của phim – qua đó tham gia tích cực vào việc biểu đạt thế giới tinh thần của nhân vật. Bộ phim mới nhan đề “Woman is woman” – tuy không có những sáng tạo đặc biệt trong việc tìm tòi những nội dung mới mẻ: bộ phim xây dựng dựa trên những mô tip hết sức quen thuộc: mối quan hệ giữa đàn ông – đàn bà; rồi sự giận dỗi cá tính của phụ nữ….Câu chuyện và cốt truyện trong phim không có gì đặc biệt nhưng nó lại ghim lại trong lòng khán giả những ấn tượng không quên bởi cách thể hiện đầy ấn tượng. Âm thanh trong phim tạo nên nhịp điệu (nhịp điệu trong lời thoại của nhân vật, nhịp điệu của bộ phim…) và nhịp điệu lại tham gia tích cực vào việc biểu đạt thế giới tâm hồn của nhân vật. Sự trầm bổng trong nhịp điệu, sự “bất chợt”, “đột ngột” và tương phản trong âm thanh cũng như trong nhịp điệu của phim cũng chính là những đặc trưng trong tính cách và tâm hồn của người phụ nữ nói chung và nhân vật chính trong bộ phim nói riêng.

Âm thanh trong bộ phim làm tôi liên tưởng đến hai câu thơ của Xuân Quỳnh trong bài thơ “Sóng” – tuy viết về những cung bậc của tình yêu nhưng cũng gián tiếp thể hiện tính cách của người phụ nữ: “Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ”. Âm thanh trong “Woman is woman” cũng diễn biến theo nhịp điệu như thế – nhịp điệu của tâm hồn người phụ nữ – hòa nhập vào tâm hồn người phụ nữ trong bộ phim để biểu đạt trạng thái tinh thần của nhân vật. Hơn nữa, sự xâm nhập đột ngột của âm thanh cũng như sự biến mất đường đột của nó khỏi khuôn hình cũng góp phần thể hiện sự tương phản, phức tạp, và “bất thường” trong thế giới tâm hồn của phụ nữ. Vì thế âm thanh trong bộ phim đã đạt đến tính chủ quan, đưa khán giả thâm nhập vào tâm hồn nhân vật.

Thứ năm: âm thanh tạo nên đặc trưng về thể loại của bộ phim
Cách sử dụng âm thanh tạo nên nhịp điệu của phim nhằm biểu đạt thế giới tâm lý của nhân vật một cách sâu sắc đã phần nào tác động đến sự xác định thể loại cho một bộ phim. Bộ phim khá thành công trong nghệ thuật đi sâu biểu hiện thế giới tâm lý nhân vật, làm khán giả thâm nhập được vào tâm hồn nhân vật, đã khiến cho bộ phim mang đậm chất tâm lý – đặc trưng thể loại phim tâm lý xã hội. Điều này cũng phần nào được thể hiện ngay từ nhan đề bộ phim.

Sự dao động tần số và tần suất âm thanh cũng làm bộ phim mang chất liệu sân khấu: âm thanh có lúc rất căng thẳng, đậm tính kịch. Trong phim cũng có sự đan xen giữa chất liệu sân khấu và đời sống: chẳng hạn cảnh trên đường phố, những ông già, bà già đi lại trên đường phố và trở thành nhân vật trung tâm trên khuôn hình (các nhân vật chính trong phim lại vắng mặt) là những cảnh đậm chất liệu đời sống. Ngoài ra, trong phim còn có nhiều đoạn sử dụng những lời dẫn thay cho lời thoại của nhân vật. Những lời dẫn ấy đem vào phim làm cho bộ phim còn có pha yếu tố của phim tài liệu.

Nhịp điệu tĩnh và động đan xen trong từng mi-zăng-xen và giữa các mi -zăng -xen với nhau còn tạo ra một hiệu quả đặc biệt: mang lại sự hài hước và hóm hỉnh, đáng yêu.

Với tất cả những hiệu quả mang lại, “Woman is woman” trở thành một bộ phim tâm lý hài hước, vừa có sự pha trộn chất liệu sân khấu – hiện thực đời sống cũng như tài liệu độc đáo. Điều đó không chỉ làm nên thành công cho bộ phim mà còn góp phần tạo nên phong cách riêng của Godard

~ by phongsinh on March 7, 2008.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: