“Đàn sếu bay”- đổi mới thủ pháp điện ảnh

Author: Mỹ Trang

So với nhiều quốc gia như Anh, Mỹ, Pháp, Đức… điện ảnh Nga ra đời muộn hơn và cũng có rất ít tác phẩm được quảng bá rộng rãi, gây được những tiếng vang, nhất là trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai. Một phần là do những ảnh hưởng của chế độ Xã hội với những hạn chế và hệ thống kiểm dịch ngặt nghèo đối với những tác phẩm nghệ thuật. Thực trạng này chỉ thực sự được cải thiện vào năm 1951, khi chính quyền của Khrushchev thiết lập một cơ chế thoáng hơn với văn hóa nghệ thuật nói chung và điện ảnh nói riêng. Bộ phim “Đàn sếu bay” ra đời trong giai đoạn này đã thực sự trở thành một tác phẩm thành công của điện ảnh Xô Viết.

Ra đời năm 1957, “bộ phim Đàn sếu bay” của đạo diễn Mikhail Kalatozov đã để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử điện ảnh Xô Viết, một cuộc cách mạng trên mặt trận văn hóa kết thúc kỷ nguyên phim “ca ngợi nhà lãnh đạo Stalin”. Một bộ phim về chiến tranh nhưng ấn tượng về những cay đắng mất mát, nỗi đau đớn của người phụ nữ lại được thể hiện mạnh mẽ. Những số phận trong phim rất thực tế, xây dựng chân thực và sinh động, không chỉ đơn thuần là tuyến nhân vật những người anh hùng, những kẻ phản bội…Người anh hùng trong bộ phim được xây dựng với những nét đời thường trong đó mối tình tươi đẹp mà cay đắng của anh điểm nhấn của cả tác phẩm. Ám ảnh trong ta là những giằng xé của nữ nhân vật chính, một người phụ nữ với nỗi day dứt, mặc cảm tội lỗi và niềm mong nhớ khôn nguôi. Diễn xuất không lời của diễn viên trong bộ phim rất tốt. Những bi kịch nội tâm đã được đặc tả qua đôi mắt, những bước chạy và những cú quay lia cận cảnh vào gương mặt nhân vật. Có thể nói những hỗ trợ về kỹ thuật đã làm tăng thêm khả năng về diễn xuất cho diễn viên.

Bộ phim áp dụng những thủ pháp nghệ thuật rất tiêu biểu theo cách làm phim Nga. Những cú máy ngắn được dựng liên tiếp tạo cảm giác căng thẳng cho người xem, góc độ máy quay được thể hiện có phần cực đoan, có những cú chuyển đột ngột từ cao đến thấp, những góc máy khai thác độ sâu bối cảnh đã tạo nên những cảnh quay xoáy sâu vào tâm trí người xem.

Một trong những cảnh quay ấn tượng của bộ phim là khi Veronica không thể nói lời tạm biệt với Boris, chạy đi tìm anh trong dòng người ra mặt trận. Những cú máy đầu tiên được quay bằng những máy cầm tay, kéo dài không cắt cảnh khi cô ngước nhìn đầy lo lắng trên chuyến xe, khi cô ra khỏi xe, vẫy tay về phía đám đông…Sau đó, thật bất ngờ, máy dựng lên để quay hất từ dưới cảnh cô gái chạy dọc con đường giữa những hàng xe tăng…

Trong một cảnh quay ấn tượng khác, máy chạy dọc theo những bước chạy theo đường ray của Veronica. Khi cô gái như gục ngã ở cầu thang, máy quay đã chuyển động theo điểm nhìn nhân vật, máy như xoay tròn cùng những vòng xoáy ở cầu thang nhằm diễn tả tâm trạng hoảng lọan, đau đớn, rối bời của cô gái. Chuyển động mãnh liệt của máy quay khiến người xem có cảm giác người quay phim cũng là một diễn viên thực thụ của bộ phim. Cắt cảnh rất nhiều, rất nanh, rất nhiều với các góc độ khác nhau càng nhấn mạnh nỗi đau đớn rối bới của cô gái đang muốn đi vào con đường chết. Sự xuất hiện đột ngột của chiếc xe tải, đứa bé chạy qua đường được lột tả bằng những cú lia máy tạo nên một cảnh đặc tả gây ấn tượng mạnh mẽ, khắc họa sâu sắc sự biến chuyển một con người từ người muốn tự sát trở thành người cứu vớt cho một số phận đáng thương khác.

Những cú quay dài không cắt cảnh được thể hiện một cách công phu về ánh sáng, bố cục đầy đủ lớp lang về chiều sâu được kết hợp với những sáng tạo trong cách dựng đã tạo nên những hiệu quả đặc biệt. Đáng kể nhất là cú dựng nối không gian từ những bước chân của người em họ đến bước chân của những người chiến sỹ trên chiến trường được thực hiện rất tự nhiên uyển chuyển cũng như việc thường xuyên áp dụng cách chuyển cảnh giữa hiện thực và tưởng tượng bằng mờ chồng đã khiến mạch chuyện phim trở nên cuốn hút đặc biệt. Tiêu biểu là cảnh tưởng tượng trước lúc người lính ngã xuống. Những hình ảnh hạnh phúc của đám cưới hai người được tái hiện qua những khung cảnh mờ ảo nói lên khát vọng hạnh phúc cháy bỏng và nỗi đau đớn ngỡ ngàng trước cái chết của chính mình.

Cách kể chuyện của bộ phim vẫn theo tuyến thẳng nhưng đồng thời cách dựng song song vẫn được tận dụng để kết nối những sự kiện từ hai vùng không gian khác nhau kể lại chi tiết về hai số phận. Hầu hết các cảnh quay được dựng trên nền cảnh có thực làm người xem cảm nhận được sự chân thực của số phận con người càng nhỏ bé và đáng thương trong nỗi đau chiến tranh rộng lớn.

Ánh sáng và âm thanh cũng được dử dụng đắc lực trong việc thể hiện ý đồ đạo diễn. Những cảnh chiếu sáng giả gây nên những không khí mờ ảo, tang thương. Những loại nhạc cụ cũng được tác giả dùng làm công cụ để thể hiện tâm trạng đa chiều của nhân vật: tiếng đàn piano của người em họ hòa lẫn tiếng bom đạn, tiếng bước chân giẫm lên thủy tinh, tiếng harmonica với những giai điệu vui vẻ…

Bộ phim mở đầu và kết thúc với một cảnh quay có nhiều sức gợi: hình ảnh đàn sếu bay trên bầu trời tượng trưng cho niềm hy vọng và khát khao cháy bỏng về một cuộc sống hòa bình và một tình yêu đích thực.

~ by phongsinh on December 27, 2007.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: