Phương Đông và phương Tây

by The Vân

Bộ phim Rashomon (1950) của đạo diễn nổi tiếng Nhật Bản Akira Kurosawa là tác phẩm điện ảnh có “số phận” khá đặc biệt. Bộ phim là sự kết hợp hài hòa giữa những yếu tố văn hóa truyền thống của phương Đông được thể hiện qua những thử nghiệm với kĩ thuật hiện đại của phương Tây.

1. Những câu chuyện kể trong phim.

Bộ phim có tới bảy câu chuyện khác nhau được kể theo lời của bảy nhân vật. Cách giới hạn số lượng nhân vật trong phim hoàn toàn nằm trong ý đồ của đạo diễn, nó khiến cho câu chuyện không bị loãng, các tình tiết đan xen vào nhau đến mức chặt chẽ nhất, tuy nhiên nội dung câu chuyện lại trở nên khó đoán nhất. Không giống như cách kể của những câu chuyện trinh thám, đến cuối phim, bao giờ kẻ giết người cũng lộ diện, trong Rashomon, sự thật của câu chuyện không thể được tìm ra.

Bối cảnh của bộ phim được dàn dựng tại một ngôi đền đổ nát tại Kyoto vào thế kỉ XII, dưới chiếc cổng Rashomon. Ba nhân vật xuất hiện, đó là một nhà sư, một tiều phu và một thường dân. Thông qua trang phục, khán giả có thể nhận thấy rằng họ đều rất nghèo khổ. Sự xuất hiện của ba nhân vật trong khuôn hình dựa vào phương pháp góc quay rộng và tiêu điểm sâu. Máy quay di chuyển từ gần đến xa, bắt đầu với cảnh toàn của ngôi đền cho tới cảnh cận quay theo chiều ngang khuôn mặt của hai diễn viên. Câu chuyện đầu tiên bắt đầu với giọng kể của người tiều phu. Ông ta kể lại việc ông ta nhìn thấy cái xác của một samurai và trở thành nhân chứng cho phiên tòa xử tên cướp – kẻ bị bắt và bị coi là tên giết người. Trong câu chuyện của người tiều phu, nhà sư cũng tham gia vào quá trình kể chuyện. Nhà sư kể lại chuyện ông đã nhìn thấy người chồng và người phụ nữ trước khi người chồng bị giết. Hình thức kể chuyện “cốt truyện lồng” được sử dụng như một yếu tố “mượn” từ trong văn học. Câu chuyện thứ ba được kể bởi nhân vật người lính đã bắt được tên cướp Tajomaru với những bằng chứng là tang vật của vụ án: 1 cây cung, 17 mũi tên có lông vũ và 1 con ngựa. Tất cả đều thuộc về người đàn ông đã chết.

Đó là bằng chứng rõ ràng nhất chứng minh kẻ giết người chính là tên cướp. Trong câu chuyện của mình, tên cướp thừa nhận hắn chính là kẻ đã giết người chồng vì sau khi chiếm đoạt người vợ, cô ta đã yêu cầu hai người hãy phân thắng bại bằng việc đấu kiếm. Cô ta sẽ đi theo người nào chiến thắng. Rút cuộc, tên cướp đã giết người chồng nhưng cô ta lại bỏ đi, không để lại một chút dấu vết. Câu chuyện thứ năm là của người vợ được kể lại qua hồi tưởng của nhà sư. Người vợ than khóc trên công đường và thú nhận tội giết chồng của mình. Câu chuyện của người vợ lại hoàn toàn trái ngược với câu chuyện của nạn nhân – người chồng. Thông qua một bà đồng, người chồng cũng tự kể lại câu chuyện theo cách của anh ta: anh ta đã tự sát sau khi phát hiện ra người vợ phản bội hoàn toàn, quyết định đi theo tên cướp. Câu chuyện cuối cùng quay lại với lời kể của người tiều phu. Người chồng bị giết sau khi thua tên cướp trong cuộc đấu kiếm.

Nhân vật người vợ và tên cướp

Bộ phim có bảy câu chuyện kể khác nhau, nhưng không có câu chuyện nào được khẳng định là sự thật. Chỉ có một điều chắc chắn là người chồng đã chết, tên cướp sẽ bị trị tội nhưng những nhân vật đang kể lại câu chuyện đó thì không tin vào vụ án kia. Nhà sư mất lòng tin vào sự trung thực con người, mặc dù ông là người chứng kiến gần như toàn bộ quá trình xử án. Có thể thấy bộ phim Rashomon đã tìm được cách chuyển câu chuyện đến với khán giả theo cách cuốn hút nhất, điều đó thể hiện sự sáng tạo và cách tân trong ngôn ngữ kể chuyện của một đạo diễn luôn tìm tòi và đưa những cái mới vào trong phim.

2. Cách dựng kiểu  sân khấu và quay phim.

Bộ phim Rashomon có cách dựng cảnh theo kiểu của sân khấu, đã tạo ra một số không gian rất đặc biệt. Đầu tiên đó là không gian của ngôi đền đổ nát. Với những góc máy rộng và di chuyển từ xa đến gần, ngôi đền được nhìn toàn cảnh từ xa và được thu nhỏ dần, tiến đến cận cảnh gương mặt của hai nhân vật: nhà sư và người tiều phu. Đạo diễn cũng sử dụng cú máy dài (long take) và tiêu cự sâu (deep focus) nhằm tập trung vào sự diễn xuất của ba nhân vật trong cùng một khuôn hình. Ba khuôn mặt mang ba dáng điệu khác nhau, ánh mắt của họ không nhìn nhau thể hiện sự mất lòng tin ngay từ ban đầu vào bản thân câu chuyện được kể. Sau lưng họ là những bức tường và thanh gỗ mục của ngôi đền bị bỏ hoang đã lâu đang tiếp tục chịu những cơn mưa kéo dài không ngớt, đe dọa hủy hoại toàn bộ ngôi đền. Không gian tiếp theo được lặp đi lặp lại nhiều lần đó là không gian của phiên toà: có tiền cảnh (gồm nhân chứng và phạm nhân) và hậu cảnh (có nhân chứng). Các nhân chứng nhìn trực tiếp vào máy quay và trả lời như đang nói chuyện với quan tòa. Nhưng quan tòa không xuất hiện. Ở đây, đạo diễn muốn ám chỉ khán giả sẽ trực tiếp đóng vai trò là quan tòa, tự phát hiện lấy sự thật trong những câu chuyện mang nhiều màu sắc khó hiểu và đầy sự ẩn dụ. Không gian thứ ba rất hay xuất hiện trong phim đó là không gian của khu rừng rộng lớn và âm u. Tất cả bí mật về vụ giết người đều nằm trong khu rừng ấy. Điểm nổi bật trong không gian thứ ba này đó là cách xử lý ánh sáng rất hiệu quả làm không gian của khu rừng khoác thêm màu sắc bí ẩn.

Trong cảnh quay người tiều phu lên núi đốn củi và phát hiện ra xác chết của người chồng, ánh sáng được thu trực tiếp từ thiên nhiên. Nhiều đốm sáng nhỏ sa xuống trên vai người tiều phu. Đây đó xuất hiện những mảng sáng, tối và bóng đổ của cây rừng lên thảm cỏ. Máy quay bám sát theo sau nhân vật. Nhiều cảnh quay sử dụng góc máy thấp với ống kính rộng thu vào khuôn hình những tán cây cao và bầu trời xa. Máy quay trượt êm trên đường ray phù hợp với bước chân của nhịp nhàng của nhân vật. Có lúc máy quay chuyển động tròn quanh nhân vật. Đoạn phim chủ yếu sử dụng góc máy thấp và ngang, cùng với cỡ cảnh cận làm nổi bật những kĩ thuật trong cách xử lý và sử dụng máy quay được thể hiện trong đoạn phim.

Nhân vật người chồng và tên cướp

Đoạn phim có cách xử lý ánh sáng thú vị nhất đó là đoạn khi người vợ bị tên cướp dùng vũ lực chiếm đoạt. Khi nhìn thấy người chồng bị trói, cô đã ngay lập tức dùng dao găm tấn công tên cướp nhưng cuối cùng không thể chống lại hắn, cô chấp nhận cam chịu. Lúc này, trên gương mặt cô gái đan xen giữa hai luồng sáng và tối. Mảng sáng chỉ là những đốm sáng nhỏ, lay động và lấp lánh. Cô chấp nhận với tên cướp mà không một chút chống cự. Câu chuyện của cô gái là câu chuyện về quan hệ xác thịt giữa nam và nữ, về sự quan trọng của trinh tiết trong văn hóa truyền thống của các nước phương Đông. Bên cạnh đó, bộ phim còn đề cập đến vấn đề bạo lực và tình dục như một trong những yếu tố cơ bản thuộc về bản năng con người. Trong phim, không một chi tiết nào chứng tỏ tình yêu của các nhân vật dành cho nhau. Tên cướp thậm chí giết người chỉ vì hắn muốn chiếm đoạt được cô gái, điều mà hắn thèm khát chứ không một chút mảy may xúc động. Đó chính là nguyên nhân tạo nên một loạt những yếu tố kì bí và câu chuyện khó giải thích trong phim.

Yếu tố thần bí thể hiện qua việc lên đồng và nhập đồng có lẽ thuộc về một nét văn hóa tâm linh khá phổ biến ở phương Đông. Việc sử dụng chi tiết này trong phim cho thấy đạo diễn đã rất khéo léo đan cài  những yếu tố văn hóa của đất nước vào trong phim hết sức khéo léo. Nhiều cảnh quay chậm, đặc biệt là những cảnh mang tính chất bạo lực giữa người chồng và tên cướp được xử lý không chút kĩ thuật. Điều này phù hợp với phong cách của một đạo diễn bậc thầy. Giai đoạn sau này, cách quay chậm được đạo diễn Kurosawa sử dụng rất nhiều trong các phim của ông như “Dreams”…

Âm thanh được sử dụng trong phim mang “chất” Nhật Bản đậm nét. Không ngoại trừ những cảnh quay sử dụng tiếng động thật (tiếng mưa, tiếng gió, tiếng gào thét của người vợ, tiếng cười ghê rợn của tên cướp…), trong nhiều trường đoạn, đạo diễn đã sử dụng những đoạn nhạc nền dài và phù hợp với hành động hay tâm lý của nhân vật. Bộ phim cũng sử dụng nhiều đoạn lồng tiếng cho nhân vật, ví dụ như cảnh bà đồng “nói” thay cho người chết đã chết. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý của bộ phim được nhiều nhà nghiên cứu phát hiện ra đó là kỹ thuật dựng cảnh hồi tưởng Hollywood những năm 40 của thế kỉ XX, cũng như của điện ảnh nghệ thuật châu Âu. Trong phim tràn ngập rất nhiều cảnh hồi tưởng của các nhân vật liên quan đến quá trình xảy ra vụ án. Tuy nhiên, với lối kể chuyện bậc thầy, đạo diễn Kurosawa đã khiến khán giả thất vọng khi đưa cho họ tới bảy phiên bản khác nhau của câu chuyện.

Bộ phim Rashomon thể hiện một quá trình lao động sáng tạo và những đóng góp của đạo diễn trong việc cách tân và đổi mới nền điện ảnh truyền thống của Nhật Bản theo xu hướng hiện đại của các nước phương Tây.

Những thông tin chung về bộ phim: Rashomon

–         Năm công chiếu: 1950

–         Đạo diễn và dựng phim: Akira Kurosawa

–         Nhà sản xuất: Daiei Eiga

–         Thời lượng: 88 phút

–         Giải thưởng: Giải Sư tử vàng tại LHP Venice (1951) và đề cử  giải Oscar (1953).

Photos by: The Criterion Collection

~ by yeuphimanh on March 4, 2011.

2 Responses to “Phương Đông và phương Tây”

  1. cám ơn chị Vân vì bài viết rất hay này. đây có lẽ là phim của Kurosawa mà mình mê nhứt. trong quyển The Tools of Screenwriting cũng phân tích Rashomon theo quan điểm người viết kịch bản khá hay, chị Vân đọc thử nhé.

  2. Cảm ơn em nhiều lắm. Chị sẽ tìm đọc trong ngày hôm nay.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: